Nếu bạn muốn diễn đạt chính xác tính chỉnh thể của một cuốn sách (quy tắc 2), bạn phải chỉ rõ được những phần đã làm nên tính chỉnh thể ấy (quy tắc 3). Dù đã cố gắng trợ giúp người đọc, tác giả vẫn không thể đưa ra những lời khuyên thực tế cụ thể. Tuy nhiên, có một bước còn cao hơn thế, và chỉ độc giả nào thật sự có tài mới có thể làm được khi anh ta đọc đồng chủ đề.
Bạn không thể hiểu toàn bộ cuốn sách nếu không biết rõ trình tự các phần. Kết thúc giai đoạn này, học sinh có thể tự mình đọc được các cuốn sách đơn giản. Khi đã tìm ra những câu chủ chốt, việc xây dựng đoạn văn sẽ dễ dàng hơn.
Nhưng cũng sẽ là vô ích nếu cố đọc hay học thuộc cho kỳ hết một cuốn bách khoa toàn thư. Những câu hỏi liên quan đến sự tồn tại và thay đổi (giải quyết những cái tồn tại hay xảy ra trong cuộc sống) thuộc về phần nhánh triết học lý thuyết hay suy luận. Ông còn kể ra hàng loạt chiến thắng của thời gian mà con người luôn mong có đủ sức để chống trả.
Vì thuật ngữ là một trong những thành tựu hàng đầu của nghệ thuật viết và đọc, nên chúng ta có thể coi nó như nghệ thuật sử dụng từ ngữ một cách điêu luyện nhằm mục đích truyền đạt kiến thức. Đó là trợ giúp người sử dụng khi họ gặp phải những cuốn sách quá khó vì có nhiều thuật ngữ, từ cổ, ẩn dụ, hoán dụ hoặc gặp các từ quen thuộc nhưng lại được sử dụng với nghĩa cũ. Bạn không nên hiểu từ giai đoạn theo nghĩa liên quan đến thời gian trừ khi bạn đang ở giai đoạn đầu luyện đọc phân tích.
Khi sáng tác các tác phẩm mô tả, tác giả cần vận dụng ngôn ngữ một cách tốt nhất. Văn phong của Aquinas là sự kết hợp giữa việc đặt câu hỏi và trả lời những phản đối. Không ai có thể tách hoàn toàn bản thân ra khỏi tác phẩm của chính mình.
Cùng một từ nhưng có thể có những cách sử dụng khác nhau, chuyển từ phần này sang phần khác, đặc biệt là trong một ngôn ngữ không có nhiều biến tố như tiếng Anh. Theo Aristotle, triết học bắt nguồn từ sự thắc mắc và bắt đầu từ thời thơ ấu, mặc dù đối với đa số chúng ta triết học cũng đã chất dứt từ thời thơ ấu. Đối với loại sách thực hành nói về các nguyên tắc tạo nên quy tắc, những nhận định và lý luận chính của nó thường giống sách lý thuyết đơn thuần.
Không nên thể hiện sự bất đồng theo kiểu lý sự hoặc cà khịa. Điều này cho chúng ta một gợi ý nữa là những nhận định chủ chốt phải nằm trong các lập luận chính của cuốn sách. Hãy nhớ là bách khoa toàn thư cung cấp cho ta rất nhiều dữ liệu được sắp xếp liên quan đến nhau.
Thứ nhất, chúng ta không đủ trình độ để đọc các loại sách khó hiểu nói trên. Sắp xếp theo bảng chữ cái vốn dĩ phù hợp với nội dung một cuốn từ điển. Vì vậy, quy tắc 11 có thể phát biểu như sau: TÔN TRỌNG SỰ KHÁC NHAU GIỮA KIẾN THỨC VÀ QUAN ĐIỂM CÁ NHÂN BẰNG CÁCH ĐƯA RA NHỮNG LÝ DO GIẢI THÍCH CHO ĐÁNH GIÁ PHÊ BÌNH CỦA BẠN.
Để giải nghĩa một tác phẩm giả tưởng, độc giả cũng phải thực hiện bước cuối cùng tương tự như vậy. Nhưng chúng tôi thử đặt tình huống các độc giả đọc cuốn tiểu thuyết trên chuyển đến một nơi ở mới, nơi công tác mới hoặc tham dự một bữa tiệc đông người. Điểm cần nhấn mạnh ở đây là hai phương tiện này cần được sử dụng một cách thông minh và ở mức độ vừa phải vì hai lý do.
Các tác phẩm viết theo kiểu này có thể là các công trình có tính trang trọng và khó đọc như các tác phẩm của Kant hay các bài luận triết học thông thường. Đọc là học từ một người thầy vắng mặt. Người đọc thường cho rằng, bất cứ cuốn sách nào có chứa quy tắc cũng là sách thực hành.